Tài liệu thuyết minh về lịch sử cầu Tràng Tiền – Huế

Cầu Trường Tiền xưa

 City Tour Đà Nẵng xin chia sẽ với bạn đọc một bài viết về lịch sử cầu Trường Tiền cùng các câu thơ liên quan, chắc hẵn nhiều anh chị hướng dẫn viên khi dẫn khách tour Huế, không quên nhắc đến cây cầu quen thuộc và nổi tiếng này. Với khách du lịch đến Huế, cuộc gặp gỡ đầu tiên với đất cố đô là dòng sông Hương. Và điều tất nhiên là khách sẽ dõi theo dòng sông Hương tìm cầu TrườngTiền. Nếu sông Hương là dòng sông của những chuyện tình mơ một hay trăng gió của du khách, thì cầu Trường Tiền chính là khúc nối duyên tình của bao lứa trai gái xứ Huế, có khi như một mối hận của một đoạn đời người:

“Cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp

Anh qua không kịp, tội lắm em ơi

Bấy lâu ni chịu tiếng mang lời

Dẫu có xa nhau đi nữa cũng bởi ông Trời mà xa”

Cầu Trường Tiền ngày nay.

Cầu Trường Tiền hay cầu Trường Tiền là chiếc cầu dài 402,60 m, gồm 6 nhịp dầm thép hình vành lược, khẩu độ mỗi nhịp 67 m. Khổ cầu 6 m, được thiết kế theo kiến trúc Gô tích, bắc qua sông Hương. Đầu cầu phía bắc thuộc phường Phú Hòa, đầu cầu phía nam thuộc phường Phú Hội,  ở ngay giữa thành phố Huế, Việt Nam.

Lịch sử và tên gọi:

Nhưng chuyện về cầu Trường Tiền không phải là chuyện xa xưa của xứ Huế như năm tháng trôi đi theo dòng lịch sử của con sông Hương và đất kinh kỳ. Những năm cuối thế kỷ 19, khi giặc Pháp đã đánh chiếm kinh thành Huế, ngày 23 tháng 5 năm Ất Dậu (5-7-1885), gây nên “ngày quẩy cơm chung” cho cả kinh thành tang tóc, thì sông Hương vẫn cách trở đôi bờ. Muốn qua lại Nam-Bắc dòng sông, người dân xứ Huế thuở đó phải qua những con đò ngang mà mãi sau này vẫn còn tồn tại những bãi bến. Nếu không kể những bến đò ngang dưới Cồn Hến, Gia Hội, Đông Ba, dọc theo trục đường Trần Hưng Đạo (bờ Nam), ngày nay đã có 3 bến đò chính là bến đò Trường Tiền, bến đò Thừa Phủ và bến đò Trường Súng (bên chân cầu Bạch Hổ, dưới ga Huế). 

Thi sĩ Quách Tấn, đã căn cứ bài thơ Thuận Hóa thành tức sự (chép bên dưới) của nhà thơ Thái Thuận nói rằng dưới thời vua Lê Thánh Tông (1442-1497), sông Hương đã có cầu. Và chiếc cầu đó, được làm bằng song mây bó chặt lại với nhau và nối liền nhau, nên có tên là cầu Mây. Rồi vì cầu có hình cái mống úp lên sông, nên còn có tên là cầu Mống.

Trải bao năm tháng, không biết năm nào, cầu Mống được làm lại bằng gỗ, mặt cầu lát bằng ván gỗ lim. Năm Thành Thái thứ 9 (1897), chiếc cầu trên được nhà cầm quyền Pháp (khi ấy Khâm xứ Trung Kỳ là Levecque) giao cho hãng Eiffel (Pháp) thiết kế (do Gustave Eiffel thiết kế) và xây dựng lại bằng sắt, đến năm Thành Thái thứ 11 (1899) thì hoàn thành và được mang tên vị vua này. Tổng cộng tiền xây cầu Thành Thái tiêu tốn hết khoảng 400 triệu đồng, là một số tiền lớn vào thời đó.

Nhưng sau khi vua Thành Thái bị thực dân Pháp đày sang đảo Réunion, thì nhà cầm quyền cho đổi tên là cầu Clémenceau, theo tên của một Thủ tướng Pháp thời Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.

Đến năm Giáp Thìn (1904), bão lớn làm cầu hư hỏng nặng. Hai năm sau, tức năm Thành Thái thứ 16 (1906), chiếc cầu mới được sửa chữa lại bằng xi măng cốt thép. Tổng chiều dài cây cầu là 401,10m, rộng 6,20m, có 6 vài, 12 nhịp, mỗi nhịp được thiết kế hình bán nguyệt. Và hình thức này, vẫn giữ được cho đến ngày hôm nay.

Thông tin về trận bão đó như sau: Trước hết đó là cơn bão ngày mồng 5 tháng 10 năm Giáp Thìn tức ngày 11 tháng 11 năm 1904, quen gọi là cơn bão năm Thìn. Hãy nghe một câu ca để lại, mang nỗi buồn cho một đôi bạn tình:

Năm Thìn bão nổi thình lình

Kẻ trôi người nổi, hai đứa mình lạc nhau

Cơn bão đó cuồng phá hầu hết các tỉnh miền Trung, vào đến tận Bình Thuận, Vũng Tàu trong Nam. Nạn đói kinh khủng xảy ra ở mất tỉnh phía Bắc Trung kỳ, nhất là ở Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên. Rồi một người đàn bà “bán trôn nuôi miệng” tên là Trần Thị Lan, lấy chồng khách tên Hồng, rồi lấy một viên quan Tư pháp, nên được gọi chung cái tên là cô Tư Hồng. Nhờ thế chồng là sĩ quan cao cấp Pháp, cô được Tây giao thầu phá tường thành Hà Nội. Cô Tư Hồng giàu phắt lên, tậu hàng dãy nhà to lớn ở Hà Nội cho thuê, mở tiệm, nhà chứa.

Tiếng tăm cô lừng lẫy. Nhân cơn bão năm Thìn đó, cô vét hết gạo ở miền Bắc, chở vào Huế định hốt bạc một chuyến lớn. Nhưng việc bị phát giác, cô bèn biến thóc gạo đầu cơ thành của bố thí, đem đi phát chẩn. Vậy là tiếng tăm cô nổi như sóng cồn. Và hơn thế nữa, vua Thành Thái vời cô cho được bệ kiến, ban ngay cho cô hàm “ngũ phẩm nghi nhân”, sắc chỉ có lời ca ngợi:

Nữ Trung phong nhã chi hào, hồng trần bạt tục

Thế thượng vân lôi chi hội, bạch thủ thành gia

(hào hoa phong nhã bậc nhất chị em, đàn bà khác thường gặp thời mây tuôn sấm dậy, tay trắng nên nhà)

Triều đình Huế còn ban thêm cho cô một biển vàng Lạc quyên nghĩa phụ (người đàn bà làm việc nghĩa tự ý quyên góp của cải). Cô Tư Hồng còn xoay sở xin cho cha, nguyên là phó cối cái sắc “Hàn lâm thị độc”. Cô Tư về làng ăn đại khao, có nhờ Tam nguyên Nguyễn Khuyến cho mấy đại tự để khắc treo lên cổng nhà. Cụ Yên Đổ đã cho ba chữ “Chi chi dã”, nói là lấy từ sách cổ đại tiểu do chi xuất nhập khả dĩ! Thực ra là nói về con đĩ “lớn nhỏ đều có thể ra vào cửa này”… Chuyện về cơn bão năm Thìn là thế, nhưng chính lại dính đến cầu Trường Tiền với vua Thành Thái. Xin dẫn đoạn ghi sau đây trong Hồi ký của cụ Đặng Thái Mai (tr. 122): “Một tin đồn rằng: ngày cái cầu Trường Tiền bắc qua sông Hương, được khởi công lần thứ nhất thì lão Khâm sứ, hôm bắt đầu đặt hòn đá móng cho công trình, đã nói với vua: “Khi nào cái cầu này gãy thì Nhà nước bảo hộ sẽ trả lại nước An nam cho bệ hạ”. Nào ngờ đâu, cái trận bão năm Thìn (1904) lại xô ngã nhịp cầu đầu tiên xuống sông. Thế là mấy ngày sau, khi nhà vua gặp lại Khâm sứ trong một buổi lễ, đã hỏi ngay hắn ta: “Thế nào, cái cầu gãy rồi đấy?” Lão Khâm sứ chỉ còn một nước xanh mặt lại, cười nghệ, đánh trống lảng, nói sang chuyện khác…”

Cầu Trường Tiền đổ lần 2 vào năm Thìn (1904). Mãi năm 1906, cầu được xây lại bằng xi măng, vẫn giữ tên cầu là Thành Thái cho đến năm 1916, khi vua Duy Tân khởi nghĩa thất bại, bị giặc đưa vào Vũng Tàu ở Bạch Dinh, lại gặp ngay đúng phụ vương mình là cựu hoàng Thành Thái còn bị giam tại đó. Cầu Trường Tiền đúc lại bằng xi măng, có sáu vài mười hai nhịp như hiện nay. Dân Huế có câu hò kêu gọi truyền thống cứu dân cứu nước trong những năm tháng của phong trào Duy Tân và chống sưu vào những năm 1907-1908.

Chợ Đông Ba đem ra ngoài giại

Cầu Trường Tiền đúc lại xi-mon

Ôi người lỡ hội chồng con

Về đây gá nghĩa vuông tròn với ta.

Sau khi đày vua Thành Thái, để tránh cái tên cầu mang tên nhà vua, bên Pháp khi chính phủ Clémenceau lên nắm quyền, thực dân Pháp đổi tên cầu Trường Tiền là cầu Clémenceau, nhưng dân Huế vẫn giữ tên cầu như cũ.

Đến năm 1937, cầu được mở rộng thêm hai hành lang ở hai bên, dành cho người đi bộ, xe đạp và những bao lơn (ban công) hình bán nguyệt được tạo ra ở 5 trụ cầu giữa 2 vai để có chỗ dừng chân, hay né tránh nhau.

Năm 1945 chính phủ Trần Trọng Kim đổi tên là cầu Nguyễn Hoàng. Và dù lần lượt có nhiều tên gọi, nhưng từ rất lâu, cái tên cầu Trường Tiền (vì chiếc cầu nằm gần một công trường đúc tiền, gọi tắt là Trường Tiền của nhà Nguyễn và phố Trường Tiền do vua Thành Thái (niên hiệu Thành Thái thứ 11) lập năm 1899) vẫn được người dân quen gọi và đã đi vào nhiều bộ môn nghệ thuật…

Năm 1946, trong chiến tranh Việt – Pháp, cầu bị đặt mìn giựt sập hai phía tả ngạn. Hai năm sau cầu được tu sửa tạm để qua lại.
Trong Tết Mậu Thân, trụ 3 và nhịp 7 bị phá hủy, Việt cộng cho giựt sập để cắt đường tấn công của Vieêt Nam Cộng Hoà. Một chiếc cầu phao được dựng lên tạm thời cho người qua sông và sau đó, cầu đã được sửa chữa lại.

Từ năm 1991 đến 1995, công ty Công ty Cầu 1 Thăng Long lãnh trách nhiệm trùng tu, xây lại hai nhịp cầu, đổi màu cầu từ màu dụ bạc sang màu lam, nên chiếc cầu không còn giống chiếc lược ngà và không còn lấp lánh dưới ánh mặt trời nữa. Tất cả các bao lơn cũng bị phá bỏ. Trước đây mặt cầu rộng 6m20, nhưng sau khi sửa chữa xong, chỉ còn 5m40, cho nên chỉ có xe loại nhỏ mới qua lại cầu được.

Và xin đính chính với bạn đọc, tên chính xác của cây cầu này là cầu Trường Tiền (vì xây dựng  gần công trường đúc tiền) chứ không phải Tràng Tiền, có lẽ do thói quen hay đọc trong thời gian dài đọc hoài từ Tràng Tiền, thậm chí ngay tại vị trí 2 đầu cầu, bảng tên vẫn còn để tên là Tràng Tiền từ cuộc đại tu của công ty cầu 1 Thăng Long năm 1995 đến sau này, bởi vậy người dân Huế thậm chí không biết đâu là tên chính xác, nên nghiễm nhiên chấp nhận cả 2 tên. Năm ngoái 2016 các nhà nhà chuyên môn, nghiên cứu văn hóa Huế đã yêu cầu trả tên lại đúng như ban đầu.

Một số câu thơ nói về cầu Trường Tiền:

Tên Cầu Mống đã xuất hiện trong thơ Thái Thuận:
Thuận Hóa thành tức sự
(Quách Tấn dịch)
Ghe thuyền qua lại sớm liền trưa
Cầu Mống giăng sông cửa nước chừa.
Mây lẫn bóng non trời rộng mở,
Gió dồn tiếng sóng biển xa đưa.
Chợ chiều tấp nập thân là lụa,
Nét bút bồi hồi nhịp trúc tơ.
Ca nữ quản bao dòng huyết hận,
Địch đài trổi khúc lạc mai xưa[4].
Sau Cầu Mống, là cầu Trường Tiền. Và công trình này đã nhanh chóng trở thành một thắng cảnh nổi tiếng, và là đề tài của nhiều bộ môn nghệ thuật. Trích giới thiệu:

Cầu Trường Tiền trong những câu ca:
Cầu Trường Tiền sáu vai mười hai nhịp
Em theo không kịp
Tội lắm em anh ơi!
Bấy lâu mang tiếng chịu lời
Anh có xa em đi nữa
Cũng tại ông Trời nên xa.[5]
Năm 1906, chiếc cầu được đúc lại bằng bê tông cốt thép, nên có câu:
Chợ Đông Ba đem ra ngoài giại
Cầu Trường Tiền đúc lại xi-mon
Ơi người lỡ hội chồng con
Về đây gá nghĩa vuông tròn nước non…[6]
Năm 1946, trong chiến tranh Pháp – Việt, cầu bị đặt mìn giựt sập. Sau đó, lại có câu:
Cầu Trường Tiền bấy nhiêu niên (năm) qua lại,
Kể tự đời Thành Thái đến nay.
Chạnh lòng biết hỏi ai đây,
Việc chi nên nỗi đang tay dứt cầu?
Và có ai đó đã đáp lại rằng:
Chí quyết thắng PhápTây
Nên cầu nầy phải phá,
Qua sông còn nhiều ngã
Đừng buồn bã em ơi.
Nước non khôi phục được rồi,
Cầu nầy bắc lại, không mấy hồi đó em…
Trong thời gian Nguyễn Bính lưu lạc đến Huế, cầu Trường Tiền cũng đã xuất hiện trong thơ ông:
Cầu cong như chiếc lược ngà
Sông dài mái tóc cung nga buông hờ
Đôi bờ đôi cánh tay vua
Cung nga úp mặt làm thơ thất tình…
…Bồng bồng sáu nhịp cầu cao
Thờ ơ bóng mát nơi nào cũng xanh…
(trích trong Vài nét Huế, 1941)
Trước năm 1975, ca sĩ Duy Khánh đã sáng tác ra bài Ai ra xứ Huế, trong đó có đoạn:
À ơi à ơi !
Chứ cầu Trường Tiền sáu vài mười hai nhịp
Vì thương nhau rồi chớ xin kịp về mau
À ơi ơi à! Hò ơi!
Kẻo rồi mai tê bóng xế qua cầu
Thì bạn còn thương bạn chứ biết gởi sầu về nơi mô
À ơi ơi à!…[7]
Sau sự kiện Tết Mậu Thân, cầu Trường Tiền bị bom đạn gây hư hại nặng. Quá xúc cảm, nhạc sĩ Trầm Tử Thiêng viết bài hát Chuyện một chiếc cầu đã gãy để nói lên sự việc này, có những câu :
…Cầu thân ái đêm nay gẫy một nhịp rồi
Nón lá sầu khóc điệu Nam Ai tiếc thương lời vắn dài
Vì sao không thương mến nhau còn gây khổ đau làm lỡ nhịp cầu…
Ngoài ra, cầu Trường Tiền cũng đã được in trong bộ tem thư của Việt Nam.

Chú thích:

[1] Quách Tấn, Bước lãng du, Nxb Trẻ, tr. 126-138.
[2] Thái Thuận (chữ Hán: 蔡順, 1440 -?), phó nguyên suý Tao đàn Nhị thập bát Tú, tác giả Lữ Đường thi di cảo.
[3] Trường Tiền: Thăng trầm của một cây cầu lịch sử
[4] Xem phiêm âm Hán – Việt trong Quách Tấn, Bước lãng du, tr. 130.
[5] Theo Quách Tấn, câu ca trên có từ thời vua Hàm Nghi, rất có thể do Hoàng giáp Đỗ Huy Liêu (người Nam Định) sáng tác, để gửi gắm tâm sự của một bầy tôi không kịp chạy theo vua, chứ không phải viết về đề tài tình yêu trai gái. Và qua câu này, cũng đủ chứng tỏ trước đời vua Thành Thái, sông Hương đã có cầu.
[6] Quách Tấn giải thích: “người lỡ hội chồng con”, ám chỉ những chiến sĩ còn sống sót sau cuộc Cần Vương (Bước lãng du, tr. 136).
[7] Theo [1]

Nguồn: Diễn đàn sông hương – City Tour Đà Nẵng bổ sung.

Click ngôi sao để đánh giá bài viết thay lời cảm ơn:

Tài liệu thuyết minh về lịch sử cầu Tràng Tiền – Huế
4.7 (93.33%) 3 bình chọn

Xem thêm nhiều hơn:

1Tham gia Hội tài liệu thuyết minh du lịch dành cho HDV
2Tìm hiểu cộng đồng người Chăm tại Việt Nam
3Tài liệu văn hóa Chăm tại Việt Nam
4Download Ebook lịch sử 
5Ý nghĩa niên hiệu của 12 vua triều Nguyễn
Tất tần tật thông tin về Cocobay Đà Nẵng dành cho HDV
7Click www.citytourdanang.com để đọc rất nhiều tài liệu thuyết minh

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tin liên quan

Thời gian:

Phương tiện:

Giá: Liên hệ

Thời gian:

Phương tiện:

Giá: Liên hệ

Thời gian:

Phương tiện:

Giá: Liên hệ

Thời gian:

Phương tiện:

Giá: Liên hệ

Thời gian:

Phương tiện:

Giá: Liên hệ