Tài liệu thuyết minh chi tiết về lịch sử Chùa Cầu ở Hội An

Một địa điểm nổi tiếng tại Hội An, được xem là linh hồn tại phố cổ, hình ảnh quen thuộc in trên tờ tiền polyme 20.000 vnd, không gì khác đó chính là CHÙA CẦU. Hôm nay City Tour Đà Nẵng xin chia sẽ đến bạn đọc bài viết về lịch sử hình thành, kiến trúc độc đáo, những bí ẩn cũng như ý nghĩa của các linh vật tại địa điểm nổi tiếng này. Và bài này sẽ có những chi tiết rất hiếm do City Tour sưu tầm từ nhiều nguồn và kết hợp viết lại. Mời các bạn tham khảo.




Hình ảnh Chùa Cầu tại Hội An.

Nằm ở đoạn tiếp giáp đường Nguyễn Thị Minh Khai và Trần Phú, Chùa Cầu gây ấn tượng không chỉ bởi lối kiến trúc độc đáo mà còn những bí ẩn mà công trình này mang trong mình. Chùa Cầu (hay còn gọi là Cầu Nhật Bản) được xem là linh hồn, là biểu tượng của người dân Hội An. Đây cũng là công trình kiến trúc độc đáo, gồm hai cá thể là cầu và chùa được xây dựng bắt ngang qua một lạch nước rộng gần 10m chảy ra sông Thu Bồn.

Chùa Cầu nằm ngay ranh giới hai xã Cẩm Phô và Minh Hương, thuộc địa phận Minh Hương xã. Cầu dài 18 mét có 7 gian trong đó 5 gian kết cấu gỗ theo kiểu trính chồng trụ đội, 2 gian đầu hồi uốn cong theo hình vỏ cua, mái lợp ngói âm dương (mái ngói âm dương là một sáng tạo của người xưa trong xử lý hệ thống bao che công trình, bởi mái ngói âm dương có độ dày khá cao, cấu tạo vồng ngửa vồng úp đã tạo nên một khoảng trống giữ khí, thông gió cho mái nhà, do vậy nhà lợp ngói âm dương thường mát hơn trong mùa hạ, ấm hơn trong mùa đông. Nếu như bờ hồi, bờ nóc, bờ chảy được làm tốt, mái lợp từ ngói tốt, mái được cong dịu ngọt (có độ cong võng vừa phải) và đảm bảo độ dốc tốt để hạn chế sự đọng thấm nước ở trên mái thì mái ngói âm dương có tuổi thọ khá cao trên 50 năm mới bị xuống cấp), trụ móng cầu bằng đá đẽo. Chùa và cầu gắn nhau qua vách gỗ với bộ cửa chính thượng song hạ bản.

Kết cấu “trính trồng trụ dội” của mái chùa cầu

Phần CẦU:

Văn bia lập năm Gia Long, Đinh Sữu (1817) ghi: “Minh Hương Hội An phố giới ư Cẩm Phô hữu khê, hữu kiều cỗ dã. Tương truyền Nhật Bổn quốc nhân sở tác kinh phụng”
(Làng Minh Hương, phố Hội An, tại địa giới Cẩm Phô có khe nước, có cầu cổ. Tương truyền người nước Nhật Bổn xây để qua lại.)
Đại Nam nhất thống chí ghi: “Cầu ở xã Cẩm Phô về phía tây phố Hội An, huyện Diên Phước, nước khe chảy về phía Nam đổ vào sông Cái, cầu bắc ở trên. Tương truyền cầu này do người khách buôn Nhật Bản bắc, dưới cầu xây đá, trên lát ván, gác mái gồm bảy gian lợp ngói “
Chùa Cầu là một kiến trúc liên hợp: CHÙA và CẦU.

Cầu xây trước, do người Nhật kiến tạo, nhưng khởi công và hoàn thành từ thời điểm nào cho đến nay vẫn chưa sáng tỏ. Tên gọi CẦU NHẬT BẢN được ghi trong thư tịch cổ Việt Nam đầu tiên từ năm 1617.

Trên bản đồ “Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ” do Đỗ Bá vẽ có ghi tên Hội An kiều với hình vẽ chiếc cầu có mái.
Nhà nghiên cứu Pháp Albert Sallet cho biết thêm: “Các truyền thuyết còn kể lại rằng một người Nhật Bản tên Thanh đã xây dựng cây cầu này trên những cột bằng đá với bộ sườn siêu cấu trúc và một mái bằng ngói “.

Tác giả Vũ Đức Tân trong bài viết có tựa đề Hội An đăng trên tạp chí Việt Nam đã viết rằng cầu Nhật Bản (tức Nhật Bản Kiều) ra đời vào năm 1593.
Một tác giả nước ngoài đã viết trên báo The Asian Wall Street Journal như sau: “Cầu Nhật Bản với cột vuông, mái cong là công trình của giới kiến trúc Nhật Bản quyết định xây dựng năm 1593 để thông thương buôn bán với người Hoa.”

Như vậy, cầu Nhật Bản được xây dựng ở cảng thị Hội An chậm nhất từ năm 1617.
Và dĩ nhiên, nếu tại thời điểm này, một người nào đó dừng chân trên chiếc cầu Nhựt này mà hỏi: “Làng Minh Hương ở đâu?” thì không một ai có thể chỉ giúp.
Đơn giản vì hồi đó chưa có địa danh Minh Hương. Làng Minh Hương được thành lập từ năm 1644 đến năm 1653!!.




Thủy khê dưới chân cầu là khe Ồ Ồ, xuất phát từ Bàu Ốc Thượng chảy vòng vèo trước chùa Long Tuyền qua địa phận chùa Phật Học trước khi đổ vào sông Thu Bồn.

Thời ấy nhờ vào chính sách cởi mở của Chúa Nguyễn ở miền Nam ưu đãi những di thần nhà Minh và những người dân Trung Quốc tỵ nạn, vì vậy họ rất hâm mộ và quyết tâm định cư. Họ mở mang dạy cho dân địa phương canh tân kỹ nghệ, cách thức làm ăn, buôn bán nghề nghiệp v.v… Có một số kiều dân Nhựt Bổn cũng ở lại Việt Nam phần đông là thương khách, cũng như các thương khách Trung Hoa cứ 6 tháng lại về. Khi bán hàng cũng như mua hàng họ phải chờ có gió mùa mới trở về nước, thường là khi hết hội chợ. Vì nguyên nhân đó mà người Trung Hoa cũng như Nhựt Bổn cư trú tại Hội An được chia làm 2 khu vực. Từ chùa Cầu trở lên là khu phố Nhật (bây giờ là khu vực đường Nguyễn Thị Minh Khai) , từ Chùa Cầu trở xuống là khu phố của người Hoa (bây giờ là khu vực đường Trần Phú). Phố Nhật chỉ có nhà ở còn phố khách người Hoa chiếm lĩnh trung tâm thành phố. Lúc đó chưa có đường Nguyễn Thái Học (mở năm 1840) và đường Bạch Đằng (mở năm 1878).

Nhớ lại vào năm 1633, Mạc Phủ Nhật Bản đã ban bố lệnh đóng cửa không quan hệ giao thương với nước ngoài, Nhật kiều đang sống và buôn bán ở nước ngoài phải hồi hương và chuyến tàu Nhật Bản cuối cùng đã rời bến cảng Hội An vào năm 1637, phố Nhật Bản bắt đầu rơi vào cảnh suy tàn và cầu Nhật Bản được người Việt ở Hội An quản lý.

Sau khi làng Minh Hương ra đời và cầu Nhật Bản nằm trên địa phận làng này, nên chúa Nguyễn đã giao cho người Minh Hương nhiệm vụ quản lý và tu sửa cầu.
Sách “Đại Nam Nhất Thống Chí” viết:
“Năm Kỷ Hợi (1719), chúa Nguyễn Phúc Chu đến thăm Hội An, đặt tên cho chiếc cầu là Lai Viễn Kiều, với ý nghĩa (cây cầu của những người từ phương xa tới) và cho khắc biển vàng”. Nay vẫn còn!
Như vậy, từ thời Chúa Nguyễn Phúc Chu, cầu có thêm một tên mới.

Phần CHÙA:

Cho mãi đến 1653, Trung Lương Hầu Khổng Thiên Như, một trong mười vị tiền hiền đầu tiên thành lập làng Minh Hương ở Hội An, đồng thời là quan phụ trách Ty Tàu vụ tại đây của chúa Nguyễn mới cùng một số tiền hiền khác bỏ tiền ra xây dựng ngôi chùa nhỏ nằm sát cầu Nhật Bản ở phía Tây để thờ Bắc Đế Trấn Võ Tổ Sư (hay Huyền Thiên Đại Đế) (Admin citytourdanang.com đã từng up tài liệu về vị thần này, bạn đọc có thể xem lại ở link dưới) cùng Trừng Hán Cung thờ Quan Công và Minh Hương Phật tự thờ Phật Quan Âm. Sau khi ra đời phức hợp kiến trúc cầu Nhật Bản – chùa Bắc Đế hay Cầu Chùa, danh xưng cầu Nhật Bản dần bị quên lãng và được thay vào đó bằng tên gọi quen thuộc Chùa Cầu. Chùa ra đời sau cầu ít nhất 35 năm. Danh xưng Chùa Cầu đã ra đời ở Hội An sớm nhất là vào năm 1653.

Điện thờ Thần Bắc Đế Chân Võ Tổ Sư (hay Huyền Thiên Đại Đế).

Xem thêm bài liên quan: Tài liệu thuyết minh chi tiết về Bắc Đế Trấn Vũ tại Chùa Cầu Hội An

Sau khi quản lý cầu Nhật Bản và dựng thêm ngôi chùa nhỏ bên cạnh, làng Minh Hương đã có công bốn lần trùng tu cây cầu : năm 1763 dưới thời Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát, năm 1817 dưới thời vua Gia Long, năm 1875 dưới thời vua Tự Đức và năm 1917 dưới thời vua Khải Định. Từ lần trùng tu cầu thứ hai trở đi, sự việc đó đều được ghi bằng chữ Hán trên thượng lương và các xà dọc trên mái của cầu mà nay vẫn còn. Trên thượng lương ở đỉnh nóc cầu còn các dòng chữ Hán có nghĩa như sau : ” Niên hiệu Gia Long thứ 16 năm Đinh Sửu (1817), tháng Ất Tỵ, ngày Ất Dậu, giờ Kỷ Mão, lý trưởng làng Minh Hương Trương Hoằng Cơ cùng cả làng đã xây dựng lại công trình “.
Cũng chính vào tháng 8 năm Đinh Sửu này (1817), làng Minh Hương đã dựng ” Bi ký trùng tu Chùa Cầu “ mà đến nay còn gắn trên cầu. Những dòng chữ Hán trên bi ký có đoạn : ” Tại phường Minh Hương đô thị Hội An, phân giới với Cẩm Phô có con sông nhỏ, có cầu cổ. Tương truyền do người Nhật Bản làm. Trải từ triều đại trước ban sắc cho tên Lai Viễn Kiều… “.




Nhât Bản Kiều trong kết cấu kiến trúc và trang trí nội thất đã chứa đựng dấu ấn của nền văn hóa Phù Tang ; mái ngói mềm mại với độ dốc thấp, những cột vuông , nền cầu lát ván hình vòng cung ; các hoa văn trang trí hình mặt trời, chiếc quạt xòe… nay không còn nữa ; những Thần Khỉ và Thần Chó thờ ở hai đầu cầu.
Ở cảng thị Hội An ngày xưa cộng đồng người Việt, người Nhật, người Hoa có chung một truyền thuyết về nguyên nhân gây ra động đất. Họ cho rằng ở ngoài đại dương có một loài thuỷ quái mà người Việt gọi là Con Cù, người Nhật gọi là Mamazu, người Hoa gọi là Câu Long, đầu của nó ở Nhật Bản, đuôi của nó ở Ấn Độ và lưng của nó vắt qua khe ở Hội An mà Cầu Nhật Bản bắc qua. Mỗi khi con thuỷ quái đó quẫy mình thì nước Nhật bị động đất và Hội An không được yên ổn để người Nhật, người Hoa, người Việt được bình yên làm ăn buôn bán. 

Theo thần thoại Nhật Bản, Namazu là một con cá trê có cơ thể khổng lồ. Do vậy, mỗi khi di chuyển, đuôi của nó quẫy mạnh khiến trái đất rung chuyển. Namazu được miêu tả là bị các thần linh giam giữ trong lớp bùn dưới các hòn đảo của Nhật Bản, khi các vị thần không cảnh giác, Namazu sẽ quẫy cơ thể và gây nên những trận động đất kinh hoàng.

Chỉ có thần Kashima, vị thần của sấm sét và kiếm đạo mới có đủ khả năng chế ngự con cá trê khổng lồ này. Tuy nhiên, thỉnh thoảng khi thần Kashima mệt mỏi hay phân tâm thì Namazu lại có cơ hội quẫy mình, gây ra các trận động đất, thậm chí có cả núi lửa phun trào, gây ra đại họa. Người dân tin rằng, quái vật khổng lồ Namazu trừng phạt sự tham lam của con người.

Namazu trong truyền thuyết của Nhật Bản, được cho là có khả năng gây động đất

Bằng cách gây ra những trận động đất, Namazu muốn con người phân chia của cải ngang bằng nhau. Vì vậy, nó được coi là thần của cải. Người Nhật cho rằng con Namazu có đầu ở tận quê nhà Nhật Bản, đuôi ở Ấn Độ nhưng lưng của nó vắt qua khe ở Hội An mà cầu Nhật Bản bắc qua. Mỗi khi con thủy quái đó quẫy mình thì nước Nhật bị động đất và Hội An cũng không được yên ổn. Điều trùng hợp là khi sang Việt Nam buôn bán ở phố Hội, các thương gia người Nhật cũng thường xuyên phải đối phó với cảnh lụt lội.

Để người Nhật, người Hoa, người Việt được bình yên làm ăn buôn bán, với kinh nghiệm của mình, người Nhật khi qua định cư tại Hội An đã cố tìm thầy phong thủy giỏi để xem thế đất, cắm điểm xây dựng một chiếc cầu tại đây hình dáng như là một thanh kiếm đâm xuống ngay sống lưng con Namazu, khiến nó không thể quẫy đuôi gây ra động đất nữa.

Ngoài ra, người Nhật cũng đã sáng tạo ra nhiều vị thần có khả năng trấn áp con thủy quái đó, mà thần khỉ là một trong số đó.

“Theo con mắt phong thủy, chùa Cầu như một thanh kiếm trấn yểm sông Hoài, ngăn không cho thủy quái gây lụt lội. Hai đôi tượng khỉ và tượng chó cũng chính là hai vị thần bảo hộ trong quan niệm của người Nhật. Chúng ta cũng bắt gặp ý niệm này tại nhiều bến đò trên sông Hoàng Hà, người ta đặt tượng khỉ như một vị thần bảo vệ cho những chuyến đi và chúc phúc cho những người qua đò”, Ths.Lê Thảo, giảng viên Trường Đại học Văn hóa Thể thao và Du lịch Thanh Hóa cho biết.

Để khống chế con Mamazu, người Nhật đã thờ các Thần Khỉ và các Thần Chó trên hai đầu cầu để ” trù ” con thuỷ quái đó. Điểm yểm chính thức là một bia đá cách cầu theo đường chim bay khoảng 1km về hướng tây-bắc.

Bia đá nằm khuất sau cây đa trên đường Phan Châu Trinh cách nhà thờ Tin Lành 300 mét.

BẮC ĐẾ SẮC MỆNH LẬP HỘI AN CỰC LẠC MÔ ÁP YỂM THỦY ĐẠO và các ký hiệu kỳ quặc như bùa

Linh hầu và linh khuyển:




Những học giả của Trường Đại học Showa (Chiêu Hoà) đã đến nghiên cứu ở Hội An tháng 9-1992, tháng 3-1993 và tháng 9-1993 đã trao đổi rằng những con thú thờ trên cầu không phải là những con thú bất kỳ mà là những vật linh theo tín ngưỡng vật tổ của người Nhật. Khỉ và chó là những con vật mà người Nhật sùng bái thờ tự từ cổ xưa. Vì vậy người Nhật dựng tượng thần Khỉ và thần Chó để trấn yểm con quái vật Namazu, người dân gọi đây là Thần Hầu và Linh Cẩu. Một thuyết khác cho rằng việc đặt 2 bên đầu cầu hai con linh vật trên là có ngụ ý về thời gian xây dựng công trình kéo dài 3 năm, bắt đầu động thổ từ năm Thân (con khỉ) và hoàn thành năm Tuất (con chó). Thoạt nhìn, người ta nghĩ tượng được tạc bằng đá, nhưng thực chất nó được làm bằng gỗ và mạ màu vàng. Hai pho tượng khỉ cao khoảng 80cm, hai tay ôm trái đào ở trước ngực.
Quan sát kỹ hai bức tượng, người tinh ý sẽ nhận ra là có một con đực và một con cái ngồi đối xứng nhau, cùng áp mặt vào nhìn nhau như có ngụ ý là “có đôi có cặp” với ý niệm cầu mọi điều trong cuộc sống sẽ suôn sẻ, may mắn, phồn thực như ý nghĩa của cư dân nông nghiệp lúa nước. Hơn nữa, có người cho rằng việc xây dựng hai bên đầu cầu những con chó và khỉ là một cách chỉ phương hướng trên địa bàn: Thân chỉ hướng “Tây Nam”; còn Tuất chỉ hướng “Tây Bắc”.

“Theo con mắt phong thủy, chùa Cầu như một thanh kiếm trấn yểm sông Hoài, ngăn không cho thủy quái gây lụt lội. Hai đôi tượng khỉ và tượng chó cũng chính là hai vị thần bảo hộ trong quan niệm của người Nhật. Chúng ta cũng bắt gặp ý niệm này tại nhiều bến đò trên sông Hoàng Hà, người ta đặt tượng khỉ như một vị thần bảo vệ cho những chuyến đi và chúc phúc cho những người qua đò”, Ths.Lê Thảo, giảng viên Trường Đại học Văn hóa Thể thao và Du lịch Thanh Hóa cho biết.
Theo các nhà nghiên cứu, trong tô-tem giáo của người Nhật, linh vật khỉ xuất hiện trong nhiều công trình tín ngưỡng từ cổ xưa. Liên quan đến tượng thần khỉ ở chùa Cầu còn hai câu đối về hai con linh vật “trấn yểm” hai đầu chùa Cầu.

Linh Hầu và Thần Khuyển

Riêng con linh cẩu được khắc văn bài ghi những dòng chữ Hán: “Thiên cẩu song tinh an cấn thổ, Tử vi lưỡng tỉnh định khôn thân”.
Tạm dịch là: Hai sao thiên cẩu trấn an đất cấn, Hai tướng tử vi định giữ cung khôn. Ở một nền chung rộng lớn hơn của tín ngưỡng Nhật Bản, khỉ đóng vai trò là thần bảo hộ và là trung gian giữa thần linh và con người.

Trong nông nghiệp, khỉ được tin là có thể xua đuổi sâu bệnh. Shogun đầu tiên của Mạc phủ Tokugawa là Tokugawa Ieyasu (1603-1605) đã suy tôn thần khỉ là vị thần bảo vệ sự yên bình của đất nước.
Các samurai (võ sĩ Nhật) thường bọc ống tên của họ bằng da khỉ để khai thác sức mạnh bảo vệ của những con khỉ trên ngựa.
Cũng bàn về hình tượng cặp “Thần Hầu” (hay Linh Hầu) ngồi chầu dạng thiền định nhìn nhau trên chùa Cầu, Nhà văn hóa học – Tiến sĩ Văn hóa học Trần Tấn Vịnh cho rằng: “Ở Chùa Cầu có hình ảnh con khỉ được mô tả đang dùng tay bịt miệng. Đây có lẽ đó là biểu hiện triết lý Tam Không của Phật giáo: không nói điều xấu, (bên cạnh là không thấy điều xấu, bằng cách che mắt và không nghe điều xấu, bằng cách bịt tai). Phải chăng khi xây dựng chùa và đặt tượng Thần Hầu – Linh Cầu, người xưa đã đưa triết lý này vào như biểu thị một tâm ý”.
Trong khi đó, nhiều người dân Hội An tin rằng, thuỷ quái bị xây cầu “trấn yểm” nên rất giận dữ, muốn tìm cơ hội báo thù. Chính vì vậy, không ít năm, Hội An rơi vào cảnh lụt lội, bì bõm do nước sông dâng cao.
Trận lụt lịch sử cách đây mấy chục năm còn cuốn phăng bức tượng gỗ Huyền Thiên đại đế thờ trong chùa và một tượng khỉ đá. Vài năm sau, người ta tìm thấy tượng khỉ đá nhưng có vẻ “lá bùa” trấn yểm đã mất thiêng.
Sau đó, người ta đã tạc lại tượng bằng gỗ do các nghệ nhân làng mộc Kim Bồng tạo tác. Hình tượng thần khỉ đã trở thành một linh vật gắn với chùa Cầu.
Chính vì vậy, không riêng gì người dân phố cổ mà mỗi khách thập phương khi hành hương về chùa Cầu đều cố nán lại trước mặt hai linh vật này để thắp hương, thành tâm cúng vái cầu bình an gia hộ.
Nhiều người có điều kiện còn sắp mâm lễ vật, hoa quả, hương đèn dâng lên hai ngài “linh cẩu” và “linh hầu”, nhất là vào những ngày rằm, lễ tết cầu mong những điều tốt lành.

Ngoài ra ở nơi Thần Hầu và Linh Cẩu trấn giữ còn được khắc những dòng chữ Hán. Đôi câu đối chữ Hán ở phía cửa Đông của cầu như sau:
“Thiên cẩu song tinh an cấn thổ, Tử vi lưỡng tỉnh định khôn thân” Tạm dịch là: ‘Hai sao thiên cẩu trấn an đất cấn, Hai tướng tử vi định giữ cung khôn’
Đôi câu đối chữ Hán ở cửa phía Tây của cầu có nội dung:
“Ngoạn nguyệt khách du châu vĩ điện, Khán hoa nhân đáo mã đề lôi”. Tạm dịch là: ‘Khách ngắm trăng thuyền nhanh như chớp, Người xem hoa vó ngựa sấm vang’.
Cho đến năm 1633, tình hình Nhật Bản có biến động, Nhật Hoàng ban bố lệnh đóng cửa không quan hệ giao thương với nước ngoài, đồng thời yêu cầu những người Nhật kiều đang sống và buôn bán ở nước ngoài phải hồi hương. Phố Nhật Bản tại Hội An dần rơi vào thời kỳ suy tàn và chùa Cầu được giao lại cho người Việt cai quản.
 
Năm 1644, Trung Quốc xảy ra biến động, nhiều người nhà Minh vì sợ nhà Thanh truy sát nên mới vượt một chặng đường dài đến đất Hội An để xin Chúa Nguyễn Phúc Lan gia nhập quốc tịch Việt Nam và thành lập nên làng Minh Hương tại cảng thị Hội An. Sau đó, chúa Nguyễn đã giao cầu Nhật Bản cho người Minh Hương quản lý và có nhiệm vụ chăm lo sửa chữa cầu.
Những người Minh Hương cũng tin rằng dưới chân cầu này là hang ổ loài thủy quái dữ tợn, khi gặp điều kiện sóng to, gió lớn, nước dâng cao mới tỉnh giấc trở mình quẫy đuôi làm nước sông dâng ngập cả phố cổ gây nhiều thiệt hại cho dân làng. Để yểm trừ, người dân cho xây dựng thêm ngôi chùa nhỏ nằm sát cầu để thờ Bắc Đế Trấn Vũ (hay Huyền Thiên Đại Đế) cũng với mục đích khống chế con Câu Long không gây ra động đất. Tại chùa Cầu, tượng Bắc Đế Trấn Vũ được thờ ở vị trí trung tâm của chánh điện. Bắc Đế Trấn Vũ (hay Huyền Vũ Thánh Quân, Đãng Ma Thiên Tôn, Huyền Thiên Bắc Đế) là một trong những vị thần lớn được tôn sùng trong Đạo giáo của Trung Quốc. Bắc Đế Trấn Vũ tượng trưng cho sao Bắc cực, thống trị phương Bắc, kiêm quản lý các loài thủy tộc nên cũng được coi là thủy thần hay hải thần.



 
Ở Hội An, từ tháng 9 đến tháng 12 âm lịch thường xảy ra lũ lụt kèm theo giông bão. Mỗi khi lũ dâng, những dãy nhà ven sông thường ngập chìm trong biển nước, phải đến 3 – 4 ngày sau, thậm chí cả tuần nước mới rút. Bắc Đế Trấn Vũ là vị Thần có khả năng trị thủy, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi những cơn địa chấn diễn ra ở Hội An, ổn định về mặt phong thổ, giúp cho cư dân làm ăn buôn bán được thuận buồm xuôi gió. Do đó, người Minh Hương thờ Bắc Đế Trấn Vũ làm chỗ dựa về mặt tinh thần của mình trong quá trình định cư tại vùng đất mới, giúp họ yên lòng vượt qua những khó khăn và có thêm niềm tin trong công cuộc mưu sinh.Hai bên tường của cổng ra vào ở phía tây và phía đông cầu Nhật Bản ban đầu có hai câu đối chữ Hán đắp nổi, nhưng qua năm tháng bị mờ dần để sau cùng bị mất hẳn và người Minh Hương đã thay vào đó bằng hoa văn đắp nổi hình quả phật thủ lớn.
Chùa được trùng tu vào các năm 1817, 1865, 1915, 1986.

Văn bia Khải Định năm 1917.

Nội dung văn bia này:

“Xã ta khắc theo năm Duy Tân, Ất Mão (1915), tháng sáu
Quý tòa chuẩn xuất tiền yêu cầu tu bổ cầu xưa Lai Viễn. Nay thừa theo ghi lại.
Quan lớn chánh công sứ
Quan lớn sở công chính
RESIDENT-LESTERLIN-GALTIER-CONDUCIEURS-PAPIN-LEPRINCE-LAREEP
Thông sự sở công chính: Trần Ngọc Thôi – Trần Thế Diễn
Thực hiện chung các công việc hoàn thành vào tháng sáu năm Đinh Tỵ (1917). Bổn xã nhớ ân khắc ghi nhằm để lại lâu dài.
Khải Định năm thứ hai (1917), tháng bảy, ngày tốt. Minh Hương xã, bổn xã đồng kính khắc”

Năm 1990, chùa Cầu được công nhận là Di tích Lịch sử – Văn hóa cấp quốc gia. Không chỉ có ý nghĩa về tâm linh, cầu còn có vai trò khá quan trọng về giao thông. Đến nay, ngôi chùa dường như đã trở thành tài sản vô giá, chính thức được chọn là biểu tượng của Hội An.

 Với tài liệu tham khảo này, City Tour Đà Nẵng hy vọng các bạn hướng dẫn viên sẽ lưu lại cho mình những kiến thức nền tảng tốt nhất để hành nghề, giúp du khách hiểu hơn văn hóa lịch sử quê hương mình. Thân !
Nguồn: Hà Kiều- Hoàng Giang (phapluatplus.vn) – Thủy Tiên (daikynguyenvn.com) – Soncuongde Blogspot – Admin www.citytourdanang.com

Đọc thêm các tài liệu khác tại city tour đà nẵng:

1  Tham gia Group Tài liệu thuyết minh du lịch
2  Đăng ký kênh Youtube thuyết minh dành cho hướng dẫn viên
3  Ý nghĩa và biểu tượng cổng Tam Quan
4  Lịch sử hình thành 3 ngôi chùa Linh Ứng tại Đà Nẵng
5  Lịch sử chùa Tam Thai tại Ngũ Hành Sơn
6  Tài liệu Thuyết minh về tháp Xá Lợi
7  7 sự hiểu lầm về đạo Phật ở Việt Nam
8  Ý nghĩa số 7 trong đạo Phật (nằm giữa bài viết)
9  Bài thuyết minh về đại nội Huế
10  Download nhiều ebook lịch sử 
11   Lược sử về cuộc đời Phật Thích Ca.
12  Tam Thế Phật là ai và có ý nghĩa gì?
13   Những địa danh vùng miền bị thay đổi và sai lệch
14  Lịch sử thú vị của ngày lễ tình nhân
15  Tài liệu lịch sử về đảo Cù Lao Chàm
16   Tài liệu thuyết minh về sông Bến Hải – cầu Hiền Lương ở Quảng Trị
17  Tín ngưỡng thờ môn thần (thần giữ cửa) ở Hội An
18  Lịch sử về Rừng Dừa Bảy Mẫu tại Hội An
19  Tour Huế 1 ngày từ Đà Nẵng
20  Chuyện ăn uống của các vua Nguyễn
21  Chuyện phòng the của vua Nguyễn
22  Ý nghĩa của việc chắp tay trong đạo Phật
23  Thuyết minh về Bắc Đế Trấn Vũ tại Chùa Cầu Hội An
24  Lược sử đạo Thiên Chúa Giáo
25   Tour phố cổ Hội An 1 ngày: 440.000 vnd/1 khách

Cảm ơn City Tour bằng cách click vào ngôi sao để đánh giá bài viết:

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Tin liên quan

Thời gian:

Phương tiện:

Giá: Liên hệ

Thời gian:

Phương tiện:

Giá: Liên hệ

Thời gian:

Phương tiện:

Giá: Liên hệ

Thời gian:

Phương tiện:

Giá: Liên hệ